KỸ THUẬT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG QA-QC TRONG NGÀNH MAY MẶC

KỸ THUẬT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

Quản lý chất lượng ( QLCL)

1. Các nguyên tắc kiểm tra chất lượng sản phẩm may

+ Lựa chọn số mặt hàng đúng từ 1 lô hàng xác định để kiểm tra

+ Kiểm tra cẩn thận, kỹ lưỡng từng mặt hàng đã lựa chọn

+ Ghi các lỗi phát hiện được vào phiếu, biểu mẫu kiểm tra

+ Báo cho người giám sát chất lượng về việc phát hiện ra lỗi chất lượng bị vượt quá giới hạn cho phép

+ Nhận thông tin phản hồi từ sau quá trình tái chế từ người điều hành chất lượng

+ Theo dõi và kiểm soát quá trình thực hiện tái chế

+ Giữ chỗ làm việc ngăn nắp, trật tự và ổn định

+ Lưu giữ cẩn thận các chứng từ, biểu mẫu liên quan đến việc kiểm tra chất lượng

2. Các giai đoạn cơ bản của kiểm tra chất lượng sản phẩm may:

2.1 Kiểm tra nguyên phụ liệu:

Chất lượng sản phẩm( CLSP) được tạo ra từ nguyên phụ liệu ( NPL) đạt chất lượng, cho dù phương pháp sản xuất và công nghệ có tối ưu và hiện đại cũng không thể bù đắp được nếu NPL có chất lượng kém.

Đợn vị sử dụng trong kiểm tra thường là inch hoặc yards (1 inch=2,54 cm:1 yards = 0,914m)

a. Hướng dẫn kiểm tra NPL:

NPL nhập vào sẽ được kiểm tra 100% hoặc sác xuất tuỳ theo từng đơn hàng.

Công đoạn kiểm tra NPL có thể được tiến hành riêng hoặc kết hợp kiểm tra trong công đoạn trải vải tuy nhiên theo kinh nghiệm đánh giá cho thấy những người trải vải họ thường tập chung vào công việc trải vải mà hạn chế về các kiến thức kiểm tra trong khi đó việc kiểm tra NPL là một công đoạn cực kỳ quan trọng trong  quá trình sản xuất

b. Các  hệ thống kiểm tra NPL:

* Hệ thống ten points (mười điểm): Được ra đời năm 1955 giành cho việc đánh giá chất lượng NPL, được tạo ra bởi các viện nghiên cứu, các nhà cung cấp sản phẩm dệt và hiệp hội dệt may quốc gia.

Hệ thống này đưa ra các khung điểm phạt cho mỗi lỗi phụ thuộc vào chiều dài của các lỗi (Lỗi chiều dài dọc khác với lỗi chiều dài ngang), tuy nhiên hệ thống này cũng gặp một số phức tạp trong quá trình đánh giá.

Nguyên tắc đánh giá của hệ thống là: Tổng số điểm phạt không vượt quá chiều dài của mẫu sử dụng (đơn vị tính bằng yards) thì sẽ được xếp  loại  1, còn nếu vượt quá thì xếp loại 2.

VD: Một mẫu vải có chiểu dài là 100 yards thì nếu lỗi  100 điểm thì NPL xếp loại 1 còn nếu lỗi > 100% điểm thì NPL xếp loại 2

Ta có bảng  sau:

Lỗi theo chiều dọc (inch)Điểm phạt cho chiều dọcLỗi theo chiều ngang (inch)Điểm phạt cho chiều ngang
10 – 3610Trên cả chiều ngang10
5 – 105Từ 5 – 1/2 khổ vải5
1 – 53Từ 1 – 33
Thấp hơn 1 inch1Nhỏ hơn 11

* Hệ thống Dullas: Ra đời năm 1971 bởi hiệp hội các nhà sản xuất hàng may mặc Dullas. Và đựoc áp dụng chủ  yếu cho vải dệt kim.

Nguyên tắc : Lỗi sản phẩm được phát hiện ra trong bất kỳ lỗi nào nếu số lỗi lớn ơn 1 lỗi/10yards thì xếp luôn loại 2

*  Hệ thống 4 điểm (four points)

–   Đây là  hệ thống được áp dụng nhiều trong kinh doanh sản xuất hàng dệt may

–   Hệ thống này có mức phạt nhẹ nhất, dễ hiểu và dễ áp dụng

Quy trình:

+  Số lượng kiểm tra  10%

+  Lựa chọn cuộn vải kiểm tra: ít nhất 1 cuộn cho mỗi màu

+  Việc đánh giá lỗi được thực hiện như sau:

LỗiĐiểm phạt
31
3   <  Lỗi 62
6  <  Lỗi 93
  94

Tối đa là 4 điểm phạt/1 yards

Chỉ xác định những lỗi chính không xác định những lỗi nhẹ

+ Lỗi chính của vải dệt thoi:  Có gút, lỗ thủng, thiếu sợi, kém độ đồng đều, sợi bị bẩn và xổ sợi ở đầu bàn

+ Lỗi chính của vải dệt kim: Sợi không đều, tạo gút, vệt kim, vệt ngang, lỗi do dừng máy

+ Lỗi do in nhuộm: Loang màu, dây màu, phai màu, ánh màu, lỗi do dừng máy nhuộm.

* Điểm chấp nhận:

Hầu hết các nhà sản xuất đều chấp nhận mức tỉ lệ 40 điểm / 100 yards. Tuy nhiên thực tế có thể thay đổi tỉ lệ này theo cùng sản phẩm.

* Tiêu chuẩn chấp nhận: Sử dụng một trong 2 phương pháp sau:

– Phương pháp 1: Tính tổng số lỗi dựa trên số lỗi phất hiện được trong quá trình kiểm tra

VD: Có 2400 yards vải. Trong khi kiểm tra phát hiện số lỗi bị phạt là 148 điểm. Biết mức điểm chấp nhận cho phép là 400 điểm / 100 yards. Vậy có thể chấp nhận lô hàng này không?

Giải:    Số lượng cần kiểm tra là 10% * 2400 = 240 yards vải

Biết: Cứ 100 yards thì chấp nhận 40 điểm phạt

Vậy với 240 yards thì số điểm phạt tối đa có thể chấp nhận là: 96 (điểm)

Nhận thấy khi kiểm tra thấy có 148 điểm lỗi  > 96 điểm lỗi cho phép

Vậy không chấp nhận.

– Phương pháp 2: Chấp nhận 10% nguyên liệu xấu

VD: Có 2400 yards tương 70 cuộn vải và khi kiểm tra thấy có 2 cuộn bị loại. Vậy có chấp nhận số vải này không.

Giải:  Số vải cần kiểm tra là 10% tổng số vải tương đương với số cuộn là 10% x 70 = 7 cuộn

Biết số cuộn bị loại là 2 cuộn.

Theo yêu cầu thì có thể chấp nhận 10% nguyên liệu xấu

2 cuộn vải bị loại tương đương với (2×100) : 7 = 28,5% > 10%  cho phép

Nên khi kiểm tra bị loại 2 cuộn là không thể chấp nhận

* Quy trình kiểm tra

+ B1: Xác định số lượng cần kiểm tra

+ B2: Lựa chọn cuộn vải cần kiểm tra

+ B3: Đưa cuộn vải lên máy kiểm tra hoặc các thiết bị tương tự

+ B4: Cắt một mẫu vải khoảng 6 inchs và đánh giấu mặt trái phải

+ B5: Dùng mẫu để đối xứng mầu trong quá trình kiểm tra

+ B6: Khi kiểm tra ngoại quan cần cho máy chạy tốc độ chậm để dễ quan sát lỗi

+ B7: Kiểm tra thông số của vải ( L, B, b )

+ B8: Kiểm tra sự biến dạng của vải dọc canh, ngang canh, xiên canh, sau đó đánh dấu điểm lỗi bằng chỉ hoặc bằng băng dính khác màu và ghi lại các thông tin nhận được vào biểu mẫu

+ B9: Xem xét việc loại bỏ.

Ngoài việc loại bỏ các lỗi nêu trên ta cần phải xem xét các yếu tố sau:

– Chiều dài cuộn vải không được nhỏ hơn 25 yards

– Không được lớn hơn một điểm nối trên 1 cuộn

– Không chấp nhận điểm nối nằm ở gần đầu hoặc gần cuối cuộn vải

2.2 Kiểm tra kiểm soát quá trình sản xuất:

a. Trải vải

– Kiểm tra phương pháp trải vải:

Phương pháp trải ziczak

Phương pháp trải vải xén đầu bàn

– Kiểm tra số lượng lớp vả trên bàn: Kiểm tra lại số lá vải so với phiếu theo dõi bàn cắt có khớp không

– Kiểm tra số lượng màu trên bàn

– Kiểm tra thông số và công nghệ:

+ Độ êm phẳng của bản vải, bề mặt vải: đảm bảo mặt phẳng bàn vải không bị nhăn, vặn, xô lệch, méo kẻ, méo sợi …

+ Chiều dài bản vải : kiểm tra xung quanh, phát hiện và xử lí những lá vải bị gấp hụt, đo mẫu kiểm tra chiều dài mẫu xem trải vải có đúng không

+ Độ đứng thành của bản vải

+ Độ vuông góc của bản vải : mép cắt đầu bàn phải đứng thành, không lá thò, lá thụt….

+ Lực căng của vải

+ Độ trùng của mép cắt đầu bàn:

– Kiểm tra các mép cắt của biên (bấm nhả biên vải) xem có đúng quy định (khoảng cách cắt, độ sâu vết cắt)

– Kiểm tra các cuộn nối của cuộn vải (độ chồm cho phép là bao nhiêu)

– Kiểm tra các thông số trên bản vải : : Khi được tổ trưởng phân công trải một bàn  vải, người thợ trải vải phải xem phiếu bàn cắt để biết được tên sản phẩm, cỡ vải, loại vải , màu sắc của vải, chiều dài bàn vải, số lượng cần trải.

b. Công đoạn cắt:

– Kiểm tra phương tiện cắt :

+ Máy cắt dập: dùng cho việc cắt phế liệu (mex).

+ Máy cắt đẩy tay (máy cắt di động): gồm 2 loại: máy cắt lưỡi tròn và máy cắt lưỡi thẳng, dùng để cắt phá và cắt những chi tiết lớn.

+ Máy cắt vòng (máy cắt cố định): dùng để cắt gọt những chi tiết nhỏ và chính xác.

– Kiểm tra số lượng chi tiết trên bàn cắt: Kiểm tra lại các đường vẽ mẫu đã chính xác và đã đúng với yêu cầu của mã hàng chưa? Kiểm tra số lượng các chi tiết, kiểm tra đối hoa, đối kẻ, chiều tuyết…

– Đối chiếu mẫu cắt (kiểm tra xắc suất một số chi tiết) đúng theo tiêu chuẩn, kích thước đã quy định.

– Kiểm tra mép cắt (độ sắc gọn, lẹm hụt), cắt đúng đường phấn,  đúng đường vẽ, đường cắt phải đứng thành, nhẵn, không gồ ghề.

– Kiểm tra thông tin chi tiết (trên mẫu cắt ghi ở lớp giấy trên cùng).

– Kiểm tra vận tốc hành trình của dao cắt nhất là đối với máy cắt tự động.

c. Công đoạn lắp ráp trên chuyền may:

Đây là công đoạn chính của quá trình gia công nó chiếm tỉ lệ lớn trong việc quy định chất lượng sản phẩm và ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Bởi nếu không thiết lập được quy trình kiểm tra chặt chẽ sẽ làm tăng chi phí sản xuất và chi phí tái chế dẫn đến tăng giá thành sản phẩm.

* Mục đích: Sớm phát hiện ra lỗi trong sản xuất được gây ra từ ý thức trình độ con người, thiết bị và các yếu tố công nghệ khác để có biện pháp xử lý kịp thời.

– Đối với công nhân: Sau khi may xong phải kiểm tra 100% công đoạn của mình và người làm công đoạn sau phải kiểm tra công đoạn trước.

– Đối với người kiểm tra thì tỉ lệ 1/30 (nghĩa là cứ 30 công nhân thì có 1 người kiểm tra, tuy nhiên tỉ lệ này có thể thay đổi phụ thuộc vào quy mô sản xuất và loại sản phẩm).

– Công cụ kiểm tra gồm có: Các biểu mẫu kiểm tra, tài liệu tác nghiệp, kế hoạch lấy mẫu, mẫu chuẩn (cho công nhân trực quan nếu cần thiết), thước dây (phải chuẩn) có thể được sản xuất từ sợi dây thủy tinh, kim loại, các mô tả cách đo, vị trí đo đối với những công đoạn phức tạp, báo cáo đánh giá chất lượng, thực hiện kiểm tra tại vị trí đủ ánh sáng.

– Kế hoạch lấy mẫu: Lấy mẫu được tính toán, thống kê theo tỉ lệ

VD: Theo tiêu chuẩn này yêu cầu kiểm tra 7 chi tiết trên bó thành phẩm và không cho phép có lỗi.

Tỷ lệ % lỗi cho phép trong kiểm tra là 2,5%

Nếu trong 7 chi tiết kiểm tra nếu phát hiện ra lỗi thì phải tiến hành 100%. Tuy nhiên tỷ lệ này có thể cho phép thay đổi phụ thuộc vào loại sản phẩm và yêu cầu khách hàng.

* Quy trình kiểm tra và chỉ  dẫn:

– Nhân viên kiểm tra tiến hành kiểm tra tất cả các bó chi tiết. Yêu cầu nhân viên trong quá trình kiểm tra không được đứng sau hoặc trước công nhân mà phải đứng ngang tầm mắt công nhân để quan sát.

– Chọn mẫu kiểm tra theo phương pháp ngẫu nhiên.

– Kiểm tra chính xác mẫu theo kế hoạch lấy mẫu.

– Tùy thuộc vào điều kiện sản xuất mà vị trí kiểm tra có thể là cố định hoặc di chuyển (tốt nhất là di động).

– Nếu tìm thấy lỗi kiểm tra phải đánh dấu điểm lỗi và chi tiết, giao chi tiết đó cho người phụ trách để có biện pháp xử lý kịp thời và kiểm tra lại lỗi sau khi khắc phục.

– Phải lưu giữ các kiểu mẫu trong quá trình kiểm tra.

d. Kiểm tra cuối cùng:

Kiểm tra cuối cùng với mục đích giúp nhà sản xuất đánh giá được hiệu quả kiểm tra chất lượng của mình, đồng thời là cơ hội cuối cùng để doanh nghiệp tìm ra lỗi còn sót lại trước khi giao hàng.

Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng nắm bắt được mức độ chất lượng đầu ra của mình.

Quá trình này có thể được kiểm tra sắc xuất trên cơ sở tính toán thống kê tỷ lệ lấy mẫu.

VD:  áp dụng tiêu chuẩn AQL 4,0

Số lượng SP kiểm traMức chấp nhận (SP)% Tỷ lệ lỗi phát hiện
1317.7%
20210%
50510%
125108%

Nguyên tắc : Đơn hàng càng nhỏ (< 100 SP) không cho phép có sản phẩm lỗi và càng phải kiểm tra một cách triệt để. Cần xác định được công đoạn nào ở phần hạ lưu(cuối chuyền) để thực hiện kiểm tra với 2 điều kiện:

–   Sản phẩm phải cùng một mặt hàng gia công

–   Số lượng mẫu trong khâu xác định nhỏ( nghĩa là dựa vào số bàn cắt và sản xuất liên tục từ 1-2 giờ)

e. Kiểm tra sản phẩm đã tái chế:

Bất kỳ một lô hàng nào không đạt yêu cầu phải tiến hành tái chế thì cần phải kiểm tra lại 100% để loại trừ các lỗi còn sót. Có thể thực hiện như sau: Sau khi kiểm tra hết 20% của lô hàng thì dừng lại xem xét dữ liệu kiểm tra, nếu số lỗi phát hiện  > 10% cho phép thì phải tiếp tục tiến hành kiểm tra hết 100%.

VD: Thực hiện theo hệ thống AQL 4,0 để kiểm tra 1000 SP

Quy trình thực hiện kiểm traSố lượng cần kiểm tra(SP)Số lượng lỗi
Kiểm tra mẫu, Kiểm tra sản phẩm32200522
Tổng23227

Tổng số lượng lỗi phát hiện là 27 chiếm 11.6% số lượng sản phẩm kiểm ta là 232 (SP)

Vậy phải tiến hành kiểm tra hết 1000 sản phẩm tái chế vì 11,6%> 10% cho phép.

3. Tầm quan trọng của chất lượng đối với các doanh nghiệp:

* Bối cảnh thế giới:

Do những thay đổi gần đây trên thế giới đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh khiến cho các doanh nghiệp ngày càng coi trọng chất lượng. Chính vì vậy chất lượng đã và càng trở thành một thuật ngữ phổ biến. Các công ty thuộc mọi quốc gia trên thế giới không còn con đường lựa chọn nào khác là phải chấp nhận cạnh tranh vì vậy muốn tồn tại và  phát triển được họ buộc phải giải bài toán về chất lượng. Thực tế kinh doanh cho thấy rằng : Để nâng cao chất lượng, hạ giá thành mà vẫn tăng lợi nhuận chỉ có thể bằng cách “nâng cao chất lượng bằng con đường kinh tế nhất”. Đây là chiến lược quan trọng đảm bảo sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp. Vì vậy đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) cần phải giải bài toán về chất lượng.

– Chất lượng luôn là một trong những nhân tố  quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tạo uy tín, danh tiếng, cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

* Chất lượng đối với các doanh nghiệp Việt Nam:

Ở VN từ cuối thập  niên 90 thập kỷ trước khi bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, chúng ta cũng cần nhận rõ tầm quan trọng của CL đặc biệt là sau khi chúng ta trở thành thành viên chính thức của khối  ASEAN tiến vào hội nhập toàn cầu hóa (2003) và trở thành viên chính thức của WTO (2006) thì mọi sản phẩm dịch vụ tự do vượt biên giới quốc gia. Hàng rào thuế quan dần được bãi bỏ xuống còn  0–5 % . Các sản phẩm của các nước trên thế  giới cũng dễ dàng thâm nhập vào thị trường VN. Vì vậy các sản phẩm của VN phải cạnh tranh mạnh mẽ ngay trên chính thị trường trong nước và trên thị trường quốc tế. Chính vì thế mà trong lĩnh vực quản lý chất lượng nhà nước đã xác định được tầm quan trọng của công tác này và vạch ra những mục tiêu ngắn hạn, dài hạn khác nhau trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đưa đất nước tiến tới năm 2020 nước ta chính thức trở thành một nước công nghiệp . Chính vì vậy song song với các chính sách đề ra nhà nước đã đưa ra các  giải thưởng quốc gia về chất lượng nhằm khuyến khích,  nâng cao chất lượng và giảm thiểu các sản phẩm không đảm bảo chất lượng.

GIẢI THƯỞNG CHẤT LƯỢNG CỦA VIỆT NAM

Để khuyến khích các tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ nâng cao chất lượng hoạt động, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, bộ khoa học công nghệ và môi trường đẫ quyết định đặt “Giải thưởng chất lượng” để dành tặng hàng năm cho các đơn vị có nhiều thành tích về chất lượng.

Giải thưởng chất lượng Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy mọi tổ chức nâng cao tính cạnh tranh bằng cách so sánh với những tiêu chuẩn được công nhận trên phạm vi quốc tế.

Giải thưởng chất lượng Việt Nam bao gồm 7 tiêu chuẩn được tham khảo từ các hệ thống chất lượng quốc tế nhằm khuyến khích các tổ chức tăng cường việc áp dụng TQM và tiến đến được cấp giấy chứng nhận ISO 9000.

Ngày nay trong đời sống xã hội và giao lưu kinh tế quốc tế, Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành 1 thách thức to lớn đối với đất nước đang phát triển trên con đường hòa nhập vào nền kinh tế thị trường quốc tế.

Chất lượng đã và đang trở thành quốc sách của chúng ta trên con đường phát triển hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Chất lượng là yếu tố quan trọng song để có thể làm chủ được nó lại là một vấn đề không đơn giản  đòi hỏi một cách nhìn nhận mới, một sự quan tâm mới không phải chỉ của những người làm chất lượng của các cơ quan quản lý mà còn liên quan tới tất cả mọi người trong xã hội.

Trách nhiệm đó trước hết thuộc về nhà sản xuất, các nhà quản lý. Để xây dung được một mô hình quản lý chất lượng hữu hiệu các nhà quản trị cần phải biết những yêu cầu của thị trường ngày nay đối với công tác quản lý chất lượng.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng:

4.1 Yếu tố vĩ mô

* Nhu cầu của nền kinh tế: ở bất kỳ trình độ sản xuất nào, chất lượng sản phẩm bị ràng buộc chi phối bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu cụ thể của nền kinh tế.

– Nghiên cứu, nhận biết, nhạy cảm với những đòi hỏi của thị trường về chất lượng, số lượng, đặc trưng kinh tế… để định hướng cho các chính sách chất lượng là nhiệm vụ quan trọng khi xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển sản xuất hướng về thị trường.

– Nhu cầu của nền kinh tế còn thể hiện ở trình độ phát triển của nền kinh tế, nền sản xuất. Trình độ chất lượng sản phẩm phải phù hợp với khả năng cho phép phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Nâng cao chất lượng sản phẩm phải phát triển nền kinh tế, nâng cao trình độ dân trí.

– Thêm vào đó, chất lượng sản phẩm còn chịu tác động chặt chẽ vào các chính sách kinh tế như chính sách và hướng đầu tư, chính sách phát triển ngành, chủng loại sản phẩm, chính sách thuế, chính sách đối ngoại…Việc kế hoạch hóa phát triển kinh tế cho phép xác định trình độ chất lượng và mức chất lượng tối ưu, xác định cơ cấu mặt hàng và xây dựng chiến lược con người trong tổ chức phù hợp với đường lối phát triển chung.

–  Chính sách giá cả cho phép doanh nghiệp xác định đúng giá trị sản phẩm của mình trên thương trường. Do đó doanh nghiệp có thể nâng chất lượng sản phẩm mà không bị chèn ép về giá.

–  Chính sách đầu tư quyết định quy mô và hướng phát triển sản xuất. Nhà sản xuất có kế hoạch đầu tư cho công nghệ, đào tạo, cho năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dựa vào chính sách đầu tư.

*  Sự phát triển khoa học kỹ thuật:

Ngày nay, khoa học kỹ thuật trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp do đó chất lượng của sản phẩm nào cũng gắn liền và bị quyết định bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là sự ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Do vậy các chuẩn mực về chất lượng cũng thường xuyên lạc hậu.

* Làm chủ được khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện để ứng dụng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất là vấn đề quyết định đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm: Chu trình công nghệ ngắn đi, sản xuất ra sản phẩm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

* Hiệu lực của cơ chế quản lý:

– Một hệ thống pháp luật chặt chẽ quy định hành vi, thái độ và trách nhiệm của nhà sản xuất đối với việc cung ứng, sản phẩm đạt chất lượng. Nhà nước kiểm tra theo dõi mọi hoạt động của nhà sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.

– Căn cứ vào mục tiêu cụ thể của từng thời kỳ nhà nước cho phép xuất nhập khẩu các chủng loại sản phẩm khác nhau. Vì vậy các nhà sản xuất phải quan tâm đến vấn đề này khi xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mình.

– Việc xây dựng các chính sách thưởng phạt về chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng đến ý thức của doanh nghiệp trong việc cố gắng cải tiến chất lượng. Đây là một đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng, đảm bảo sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp và quyền lợi của người tiêu dùng.

* Những yếu tố về văn hóa, truyền thống và thói quen:

– Chất lượng sản phẩm là sự đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Chất lượng sản phẩm mang lại tiện ích, tối ưu cho mỗi người, mỗi dân tộc là khác nhau, nó phụ thuộc vào trình độ văn hóa, truyền thống. Một sản phẩm ở nơi này là có chất lượng nhưng đem đến nơi khác lại không đạt yêu cầu. Tùy theo thói quen, truyền thống, điều kiện tự nhiên mà lại có đòi hỏi khác nhau, có những nhu cầu khác nhau.

Chính vì vậy trước khi định hướng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình, thì các nhà sản xuất kinh doanh phải tìm hiểu các truyền thống văn hóa và thói quen tiêu dùng của thị trường mà mình đi tung sản phẩm ra.

4.2  Các yếu tố vi mô:

Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cụ thể được biểu thị bằng quy tắc 4M, đó là :

–         Men : con người, lực lượng lao động trong doanh nghiệp bao gồm người lãnh đạo cao cấp, công nhân và cả người tiêu dùng nữa. Sự hiểu biết và tinh thần của mọi người trong hệ thống sẽ quyết định rất lớn trong việc hình thành chất lượng sản phẩm. Trong quá trình sử dụng chất lượng sản phẩm sẽ được duy trì và hiệu quả ra sao lại phụ thuộc vào người sử dụng với ý thức trách nhiệm cũng như sự hiểu biết của họ. Do đó doanh nghiệp cần phải có các chính sách tuyển dụng đào tạo huấn luyện đúng đắn đồng thời cũng phải chú ý tới quyền lợi của các thành viên.

–         Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.

–         Machines : khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp

–         Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên vật liệu của doanh nghiệp.

Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất.

Chia sẻ lên mạng xã hội
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  

Trả lời