Sự ra đời của chiếc máy khâu

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1755 ở London. Một di dân người Đức tên là Charles Weisenthal chế tạo chiếc kim đầu tiên dành cho máy khâu và đã nhận bằng sáng chế cho phát minh này. Tuy nhiên, không ai biết chiếc kim đã được sử dụng cho loại máy nào, vì 34 năm sau, chiếc máy khâu đầu tiên của nhân loại mới ra đời.

Máy may cổ
Máy may cổ Một trong những chiếc máy khâu cổ xưa nhất.

Sản phẩm do công dân Anh tên Thomas Saint chế tạo là một chiếc máy bấm lỗ. Nhờ có những lỗ này, người thợ may có thể xuyên chỉ qua khâu đính vải, da dễ dàng. Nhiều người cho rằng sản phẩm của Saint đã đặt nền tảng cho nhiều loại máy khâu cải tiến sau này, nếu không có lẽ giờ này con người vẫn đang may tay.

Đầu thế kỷ 19, Madersperger, một thợ may người Australia, chế tạo hàng loạt máy khâu, mỗi chiếc thực hiện một thao tác khác nhau. Ông nhận được bằng sáng chế cho nỗ lực của mình. Sau khi nhận được bằng, ông vẫn không ngừng làm việc để chế tạo những chiếc máy khác tiện dụng hơn. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó, Josef chết vì bệnh và nghèo đói.

Năm 1918, hai người Mỹ tên là John Adam Doge và John Knowles chế tạo ra một chiếc máy khâu có thể thực hiện được những đường may ngắn. Nhân vật nổi cộm trong danh sách những người chế tạo ra máy khâu còn có Barthelemy Thimonnier, người được chính phủ Pháp trao bằng sáng chế vào năm 1830. Chiếc may khâu của Thimonnier phần lớn được làm bằng gỗ nhưng cho phép người thợ may có thể thực hiện nhiều thao tác. Không giống như những người đã chế tạo ra máy khâu trước đây, Thimonnier chỉ thích làm ăn lớn. Vì vậy, ông đã thuyết phục quân đội Pháp thành lập một xưởng may chuyên may quân phục. Gần 10 năm phục vụ trong quân đội, ông có trong tay hơn 80 chiếc máy khâu. Cơ sở của ông ngày càng phát đạt và tạo được tiếng vang lớn trong ngành may. Điều này đồng thời đã “hất đổ chén cơm” của giới thợ may tại Paris. Những người này lo sợ rằng nếu Thimonnier quá thành công, họ sẽ bị thất nghiệp. Vì vậy, vào một đêm tối trời, một toán thợ may cuồng nộ ở Paris đã kéo đến xưởng may của Thimonnier, đập phá tan tành mọi tài sản ở đây. Thimonnier may mắn trốn thoát. Nhờ sự giúp đỡ của quân đội Pháp, một thời gian sau, Thimonnier thành lập lại xưởng may khác, định dần dần gây dựng lại sự nghiệp. Biết tin, nhóm thợ may lại đến quậy phá. Lần này do trong nước có nhiều biến loạn về chính trị, nên quân đội không còn quan tâm tới Thimonnier nữa. Ông đành mang theo một chiếc máy khâu nguyên vẹn trốn sang Anh.Thimonnier là người đầu tiên đưa máy khâu vào ứng dụng sản xuất với quy mô lớn và là người chủ xưởng may quân đội đầu tiên trên thế giới. Sau này ở Anh, Thimonnier còn chế tạo máy khâu với mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, dù đã nỗ lực bằng nhiều cách, Thimonnier vẫn có cuộc sống cuối đời hết sức nghèo khổ và chết trong một ngôi nhà tồi tàn ở Anh.

Năm 1933, chiếc máy khâu đầu tiên cho phép người thợ may không phải qua các công đoạn may tay ra đời. Đây là tác phẩm của một người Mỹ tên Walter Hunt. Tương truyền, Walter đã chế tạo ra chiếc máy này vài năm trước khi nó được đưa vào ứng dụng, vì ông không sao tìm ra chiếc kim thích hợp. Bao nhiêu kim đưa vào máy đều bị gãy. Một đêm, Walter mơ thấy mình đi lạc vào một khu rừng, bị thổ dân da đỏ bắt và bị trói chặt, đưa ra một bãi đất trống và xô ngã xuống đấy, mặt ngửa lên trời. Một thổ dân da đỏ hung tợn từ từ tiến lại, giơ cao chiếc giáo trên tay, đâm vào cổ tội nhân. Trong giờ phút “thập tử nhất sinh”, vì quá sợ hãi, Walter bừng tỉnh, vùng dậy và ông chợt hiểu ra chiếc kim khâu phải có hình dáng giống như chiếc giáo của người thổ dân da đỏ trong mơ. Nhiều người tôn vinh Walter là ông tổ của những máy khâu hiện đại.

Đầu thập niên 1840, một nông dân ở bang Massachusetts (Mỹ) chế tạo ra một chiếc máy khâu cho phép người thợ may hoàn toàn làm việc bằng máy (trừ làm khuy, đơm nút…). Howe, tên người nông dân ấy, kỳ vọng tác phẩm sẽ mang đến cho anh sự đổi đời, nên năm 1985, khi công bố nó, anh không ngần ngại chi thêm tiền cho các cuộc quảng cáo, triển lãm. Nhưng vào thời điểm ấy, người Mỹ chưa thực sự quan tâm đến may khâu nên Howe không bán được chiếc nào. Thất vọng và mắc nợ, Howe gửi đến cho anh trai mình là Amasa đang sống ở Anh một chiếc máy khâu, hy vọng bên kia bờ Đại Tây Dương, nó sẽ được đối xử công bằng hơn. Amasa đã tìm được cho em thị trường béo bở ở Anh, ngoài ra còn thu hút được sự chú ý của một ông chủ hãng may đồ lót tên là William Thomas nổi tiếng. Ông này hứa dẫn đường cho Howe sang Anh để phát triển sự nghiệp. Tuy nhiên, sự hợp tác không thuận buồm xuôi gió nên vài năm sau, Howe bỏ về Mỹ. Về đến Mỹ, Howe ngạc nhiên vì thị trường máy khâu ở đây đã hết sức rầm rộ. Các hãng máy may lớn có đến hàng chục, trong đó nổi bật nhất là Singer. Kiểu dáng máy khâu của các hãng này đều lặp lại theo mô hình máy khâu của Howe. Vì vậy, những cuộc kiện tụng xảy ra và kéo dài đến khi các hãng may lớn gồm Wheeler & Wilson, Grover & Baker liên kết kinh doanh, trên phương thức hùn vốn và bảo vệ sản phẩm độc quyền của mình. Tuy Singer không có công chế tạo máy khâu nhưng lại có công đưa máy khâu vào thị trường và biến chúng thành những sản phẩm không thể thiếu được đối với cuộc sống con người.
Singer và Howe sống như những tỷ phú cho đến cuối đời.

Tài Hoa Trẻ (theo Reader’s Digest)

Chia sẻ lên mạng xã hội
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  

Trả lời